Nhắc tới berberin, ai trong chúng ta chắc hẳn đều nghĩ ngay đến một phương thuốc điều trị các bệnh liên quan đến tiêu hóa như: tiêu chảy, kiết lỵ,… rất hiệu quả và vô cùng rẻ. Thế nhưng, ít ai biết được những tác dụng tuyệt vời của loại dược liệu “vàng” này.

Berberin là một isoquinolin alkaloid tự nhiên và có mặt trong các loài thực vật như Hoàng liên (Ranunculaceae), Vàng đắng (Coscinium fenestratum), Hoàng liên chân gà (Coptis chinesis), Hoàng liên gai (Berberidaceae). Từ hàng ngàn năm, berberin và các dược liệu chứa berberin đã được sử dụng rộng rãi trong nền y học truyền thống Ấn Độ và đặc biệt là trong nền y học cổ truyền Trung Quốc. Hiện nay, berberin chủ yếu được sử dụng trên lâm sàng để điều trị các bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường ruột hay nhiễm trùng mắt do hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm tương đối mạnh trên nhiều loài khác nhau. Không chỉ dừng lại ở đó, các nhà khoa học vẫn luôn dày công tìm tòi để khai thác, phát hiện thêm những giá trị tiềm năng vốn có của berberin. Các nghiên cứu trong hơn 20 năm gần đây cho thấy, ngoài tác dụng trên vi sinh vật, berberin còn có rất nhiều tác dụng sinh học đáng quý khác như: chất chống ung thư , hạ huyết áp, thuốc chống trầm cảm, chống viêm và làm giảm cholesterol , v.v ….

Berberin có trong cây Hoàng Liên
  1. Tác dụng điều trị đái tháo đường

Một cuốn sách có tựa đề “Note of Elite Physicians” đã ghi lại tác dụng chống tiểu đường của Rhizoma Coptidis vào khoảng năm 500 sau Công nguyên. Trên thực tế, Rhizoma Coptidis và một số cây thường được coi là an toàn (GRAS) đã được sử dụng để điều trị bệnh tiểu đường. Berberine, thành phần chính của Rhizoma Coptidis, đã thu hút nhiều sự chú ý nhờ các hoạt động hạ đường huyết. Tác dụng hạ đường huyết của berberine đã được báo cáo khi dùng thuốc điều trị tiêu chảy ở bệnh nhân tiểu đường năm 1988. Sau đó, nhiều bác sĩ bắt đầu sử dụng berberine để điều trị bệnh tiểu đường ở Trung Quốc.

Bệnh tiểu đường, chủ yếu là đái tháo đường týp 2, là mối đe dọa sức khỏe trên toàn thế giới. Việc điều trị căn bệnh này bao gồm chế độ ăn kiêng và tập thể dục cùng với việc sử dụng tiêm insulin dưới da và thuốc hạ đường huyết đường uống. Tuy nhiên, các thuốc hạ đường huyết, chẳng hạn như metformin và thiazolidinediones, có một số nhược điểm, bao gồm tác dụng phụ đường tiêu hóa và bệnh tim mạch. Do những hạn chế này, các nhà khoa học đang tập trung vào các loại thực thể hóa học khác, bao gồm cả berberine. Một số thử nghiệm lâm sàng đã được thực hiện để làm sáng tỏ cơ chế phân tử về tác dụng chống đái tháo đường của berberine. Cơ chế chính của berberine có thể liên quan đến sự ức chế chức năng của ty thể, kích thích quá trình đường phân và kích hoạt con đường AMPK. Berberine làm giảm kháng insulin ở chuột béo phì do chế độ ăn kiêng, tương tự như metformin [55]. Berberine tăng cường chuyển hóa glucose bằng cách kích thích glycolysis. Ngoài ra, berberine cũng có thể có tác dụng ức chế α-glucosidase, phá vỡ tinh bột và disacarit thành glucose. Berberine làm giảm nồng độ insulin trong máu thông qua việc tăng cường độ nhạy cảm với insulin ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 mới được chẩn đoán.

Berberine – Dược liệu vàng trong điều trị đái tháo đường

 

  1. Tác dụng điều trị béo phì

Gần đây, số lượng nghiên cứu về béo phì đã tăng lên nhanh chóng do ngày càng tăng tỷ lệ béo phì. Berberine ổn định mật độ gan thấp thụ thể lipoprotein (LDL) -C bởi một kinase được điều hòa con đường tín hiệu ngoại bào nhằm hạ lipid. Nó cũng làm tăng hoạt động phiên mã của LDL-R bằng con đường c-Jun N-terminal kinase (JNK). Điều trị Berberine cho các tế bào 3T3L-1 ức chế sự biệt hóa tế bào mỡ và tích lũy lipid. Berberine làm giảm các yếu tố phiên mã như protein liên kết với chất tăng cường CCAAT (C / EBP-α) và yếu tố điều hòa sterol gắn protein-1c (SREBP-1c), cũng như axit béo synthase, carboxylase, acyl-CoA synthase, acetyl-coenzyme A (acetyl CoA), peroxisome-proliferator kích hoạt thụ thể-γ (PPAR-γ) và lipoprotein lipase.

Hơn nữa, người ta đã chứng minh rằng berberine kích hoạt một quá trình trao đổi chất protein AMPK trong các mô ngoại biên và có tác dụng chống tăng mỡ ở người béo phì và mô hình gặm nhấm tiểu đường. Điều trị bằng berberine có thể làm giảm trọng lượng gan, thành phần triglyceride huyết tương,gan và hàm lượng cholesterol trong chuột db / db và ob / ob béo phì. Trong gan và cơ bắp của chuột db/db, berberine phát huy tác dụng của hoạt động AMPK và oxy hóa axit béo. Berberine tăng tiêu hao năng lượng và làm giảm khối lượng chất béo chọn lọc của động vật béo phì. Hơn nữa, este etyl của axit α-ricinoleic và một hợp chất chứa berberine cho thấy tác dụng chống béo phì trong các thử nghiệm lâm sàng.

  1. Tác dụng hạ lipid máu

Berberine đã được báo cáo ảnh hưởng đến thụ thể LDL trong tế bào gan để làm giảm mức cholesterol huyết thanh ở người. Ở chuột apolipoprotein E-thiếu (apoE – / -), berberine gây ra biểu hiện thụ thể A (SR-A) để tăng sự hấp thu của LDL biến đổi (DiO-Ac-LDL). Ngoài ra, berberine gây ra sự hình thành tế bào bọt in vivo và thúc đẩy phát triển xơ vữa động mạch.

  1. Tác dụng chống ung thư

Đã có rất nhiều báo cáo về tác dụng chống ung thư của berberine. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng berberine có thể ức chế sự tăng sinh của các tế bào khối u thông qua tương tác với các mục tiêu và cơ chế khác nhau. Berberine có thể làm thay đổi biểu hiện của gen gây ung thư và các gen liên quan đến gây ung thư bằng cách điều chỉnh lại hoạt động của adenosine protein kinase hoạt hóa monophosphate (AMPK), berberine kích hoạt phosphoryl hóa gen ức chế khối u p53 trong các tế bào cơ trơn mạch máu. Berberine cũng ức chế các enzyme liên quan đến gây ung thư . Nó đã được báo cáo rằng berberine phụ thuộc liều ức chế hoạt động N-acetyltransferase trong một số tế bào khối u bao gồm các tế bào khối u bàng quang (ung thư biểu mô) (T24) , khối u đại tràng ở người tế bào (adenocarcinoma) [9] và tế bào đa nhân glioblastoma (GBM 8401). Ngoài ra, berberine ức chế sự biểu hiện gen và protein của N-acetyltransferase một cách phụ thuộc vào liều lượng và thời gian trong ống nghiệm. Berberine nhắm mục tiêu topoisomerase I và ức chế sự di chuyển của các chuỗi DNA bị hỏng thông qua một cơ chế tương tự như vậy của chất chống ung thư camptothecin, được phân loại là chất độc topoisomerase I. Hơn nữa, berberine tương tác với DNA và RNA. Trong thực tế, trong các nghiên cứu trước đó, berberine đã được sử dụng để nhuộm DNA và RNA. Do đó, sự hình thành DNA berberine hoặc phức hợp RNA berberine đã được coi là một trong những cơ chế chung trong tác dụng chống ung thư của nó.

Từ những hiểu biết về tác dụng dược lý của berberin, các nhà khoa học của nhà máy sinh phẩm Vietlife đã nghiên cứu và bào chế thành công “Nano Berberin”, lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam với hàm lượng trên 25% và kích thước hạt 10,97nm ± 2,5nm. Nano Berberin được bào chế tại Vietlife  đã được công nhận làm nguyên liệu để bào chế sản phẩm bảo vệ sức khỏe do Cục An toàn thực phẩm – Bộ Y tế  cấp phép. Hiện nay, Nano Berberin đã có mặt trong sản phẩm CINABET, sản phẩm hỗ trợ điều trị và dự phòng cho những bệnh nhân đái tháo đường.

CINABET – Bí quyết giúp người bệnh đái tháo đường ổn định đường huyết – phòng ngừa biến chứng. Để biết thêm thông tin về sản phẩm, anh/chị vui lòng liên hệ tổng đài CSKH 024 7307 8999.

Tin chọn lọc